Bếp lửa (Bằng Việt): Ngọn lửa sưởi ấm cả một đời người
" Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!
...
Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu,
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
- Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?... "
Bài thơ khơi gợi làn khói rơm rạ "chờ vờn sương sớm" quyện cùng dáng hình tần tảo của người bà giữa những năm tháng gian khó. Đó là ngọn lửa nhóm lên từ tình thương và đức tin, sưởi ấm lòng người cháu phương xa trước muôn vàn "khói trăm tàu, lửa trăm nhà" của phố thị. Tiếng lòng ấy nhắc nhở ta rằng: Quê hương và tình bà cháu chính là bến đỗ bình yên nhất dẫn lối mỗi người trở về.
Việt Bắc (Tố Hữu): Vị ngọt tình nghĩa
"...Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô..."
Bài thơ khơi gợi những kỷ niệm ấm áp về mâm cơm nghèo mà đậm đà tình nghĩa: "Bát cơm sẻ nửa, chăn sùi đắp cùng". Đó là hình ảnh "Người mẹ nắng cháy lưng" bẻ từng bắp ngô, là hơi ấm của bếp lửa chiến khu giữa đêm rừng lạnh giá, nhắc nhở ta rằng vị ngon nhất của món ăn chính là sự gắn bó và lòng thủy chung son sắt.
Hơi ấm ổ rơm (Nguyễn Duy): Vị ngọt ngào của đất đai
"...Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm
Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng
Trong hơi ấm hơn nhiều chăn đệm
Của những cọng rơm xơ xác gầy gò..."
Bài thơ khơi gợi ký ức về những đêm đông giá rét được vùi mình trong ổ rơm vàng óng, thơm nồng vị nắng và bùn đất chiêm trũng. Qua hơi ấm "thanh tao" của rơm khô quyện cùng mùi nồng nàn của đồng ruộng, ta cảm nhận được sự che chở bình dị mà ấm áp của quê hương, nhắc nhở rằng dẫu đi khắp chân trời, hơi ấm từ đống rơm nhà vẫn là bến đỗ dịu dàng nhất vỗ về tâm hồn mỗi người con.